Tổng quan về thành viên CEP | CEP Vietnam - Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm
Điểm tựa giảm nghèo


English English Tiếng Việt Tiếng Việt

Thành Viên

Tổng quan về thành viên CEP

KHÁCH HÀNG ĐỐI TƯỢNG CỦA CEP

Đối tượng phục vụ của CEP là hộ gia đình công nhân, lao động nghèo và nghèo nhất (xác định theo chuẩn phân loại nghèo của CEP, được trình bày tóm tắt trong bảng bên dưới). Tại TP.HCM, nhóm khách hàng đối tượng này bao gồm người lao động nhập cư chưa có hộ khẩu thường trú và công nhân, lao động tại những cộng đồng có điều kiện sinh sống không ổn định và những khu vực kém phát triển ở vùng ven đô thị. Ở các tỉnh ngoài TP.HCM, CEP tập trung phục vụ người lao động nghèo tại những cộng đồng có điều kiện sống không ổn định, vùng ven và khu vực nông thôn.


Thành viên CEP được ưu tiên lựa chọn theo phân loại nghèo, với tối thiểu 80% khách hàng mới thuộc nhóm nghèo và nghèo nhất. Tuy nhiên, những khách hàng đang vay CEP khi chuyển sang nhóm tương đối nghèo vẫn được tiếp tục cung cấp tín dụng cho đến khi họ chọn rời khỏi chương trình CEP. Để đảm bảo tối thiểu 80% số khách hàng mới được phân loại nghèo và nghèo nhất, chi nhánh CEP thực hiện phân loại gắn với công tác khảo sát ban đầu và ghi nhận kết quả phân loại nghèo của tất cả khách hàng mới.


Ngoài việc phân loại nghèo của CEP nhằm xác định đối tượng phục vụ, 75% thành viên mới của CEP là nữ. Việc này nhằm mang lại quyền cho phụ nữ nghèo, giúp họ có trách nhiệm tài chính cao hơn và cơ hội tạo nhiều thu nhập hơn. Ngoài ra, cũng sẽ tạo điều kiện cho phụ nữ sử dụng thu nhập gia tăng thông qua các hoạt động tạo việc làm từ nguồn vốn tín dụng CEP vào các mục đích có ích cho hộ gia đình.


Khách hàng đối tượng của CEP được phân làm 3 nhóm: nghèo nhất, nghèo và tương đối nghèo dựa vào chỉ số tổng hợp gồm tỷ lệ phụ thuộc, thu nhập bình quân đầu người, chỉ số tài sản và chỉ số nhà ở. Bộ chỉ số này được CEP sử dụng như một công cụ định hướng trọng tâm giảm nghèo, đảm bảo các chi nhánh CEP tập trung cung cấp dịch vụ cho người nghèo. Chỉ số thu nhập được xác định theo chuẩn nghèo của Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2016, TP.HCM áp dụng chuẩn nghèo với thu nhập bình quân từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống, không phân biệt nội thành và ngoại thành).

 

Phân loại thành viên nghèo theo tiêu chuẩn của CEP

Phân loại hộ nghèo

Tỷ lệ phụ thuộc

Thu nhập

(VND/người/ngày)

Tài sản

Điều kiện nhà ở

Nghèo nhất

 

Từ 3 trở lên

Nhỏ hơn 30.000

Không có hoặc tối thiểu và chất lượng thấp

Chất lượng thấp, không kiên cố, thiếu điện và nước sinh hoạt

Nghèo

Giữa 2 và 3

30.000 – 58.300

Cũ và chất lượng thấp

Chất lượng kém, bán kiên cố, nhưng không có điện hoặc nước sinh hoạt

Tương đối nghèo

Nhỏ hơn

2

Trên 58.300

Chất lượng thấp đến trung bình

Kiên cố, có điện và nước trực tiếp

 

TÌNH HÌNH NGHÈO TẠI VIỆT NAM

Việt Nam là một nước nông nghiệp với phần lớn dân số sống bằng nghề nông. Nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp chỉ chiếm 20% GDP trong năm 2012, tỷ lệ này cho thấy tình trạng nghèo tập trung chủ yếu ở các khu vực nông thôn. Ước tính có khoảng 68% dân số Việt Nam sống ở vùng nông thôn. Đô thị hóa và tình trạng dân nhập cư đến vùng thành thị đang làm cho tỷ lệ người dân ở nông thôn giảm xuống, dẫn đến tình trạng các thành phố và các khu vực thành thị ngày càng đông dân cư, và điều này đã đặt ra những vấn đề cần được quan tâm đối với các nhà làm chính sách và các tổ chức an sinh xã hội. Mức độ nghèo của Việt Nam tương đối cao, đặc biệt là ở vùng nông thôn và vùng ven đô thị. Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2008, 43% hộ gia đình sống dưới 2 USD/người/ngày (đã điều chỉnh theo sức mua tương đương). Theo báo cáo của Tổng Cục thống kê, 11% dân số sống dưới mức chuẩn nghèo quốc gia vào năm 2012. Căn cứ theo GDP, Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình thấp với GDP bình quân đầu người trong năm 2013 là 1.900 USD.

Những chỉ số khác về phát triển xã hội thì tương đối tốt so với các quốc gia đang phát triển khác, như tuổi thọ trung bình vào khoảng 76 tuổi, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là 18/1.000 ca sinh, tỷ lệ tử vong ở người mẹ sinh con là 67/100.000 ca sinh, tỷ lệ biết chữ ở người lớn là 94% và theo đánh giá của UNDP năm 2014 chỉ số phát triển con người được xếp hạng 121 trong tổng số 187 quốc gia. Tuy nhiên, tình trạng lây nhiễm HIV vẫn còn đáng lo ngại, trong năm 2012 có 0,5% người trưởng thành trong độ tuổi từ 15-49 bị nhiễm HIV.

 

TÌNH HÌNH NGHÈO TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Dân số của TP.HCM và các tỉnh lân cận chiếm một tỷ trọng lớn so với cả nước và có số lượng người nghèo đáng kể, phản ánh bức tranh chung của quốc gia. Về mặt địa lý, TP.HCM nằm ở khu vực Miền Đông Nam Bộ. Trong năm 2012, theo số liệu của Tổng Cục thống kê, 1,4% dân số chính thức của các tỉnh Miền Đông Nam Bộ và 10,6% dân số của các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long sống dưới mức chuẩn nghèo quốc gia. Tuy nhiên, ước tính số lượng người nghèo ở TP HCM và các vùng lân cận dựa trên chuẩn nghèo quốc gia là không phù hợp vì khu vực này có chi phí sinh hoạt cao hơn đáng kể hơn so với các nơi khác trong nước. Do đó, trong năm 2016 UBND TP.HCM đã ban hành chuẩn nghèo TP.HCM áp dụng từ năm 2016 với thu nhập bình quân từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống (tương đương 2,6 USD/người/ngày).

 


 

Trong những năm gần đây, mức độ di cư đến khu vực đô thị đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu chính thức của Tổng Cục thống kê, trong năm 2012 TP.HCM có 7,7 triệu dân, tuy nhiên ước tính không chính thức thì có khoảng 10 triệu dân. Sự chênh lệch giữa 2 con số là lượng dân nhập cư tại TP.HCM, nhiều người từ các tỉnh khác nhập cư tìm cơ hội việc làm. Những người dân nhập cư này thường là những người nghèo và nghèo nhất, do đó số lượng và tỷ lệ thực tế về số người nghèo ở TP.HCM sẽ lớn hơn số lượng đã được thống kê chính thức.


Điều kiện số của người dân ở TP.HCM và các khu vực lân cận có sự khác nhau đáng kể tùy theo khu vực, khu vực nông thôn thường ít có điều kiện để thụ hưởng những tiện ích cơ bản như nước sạch, điện sinh hoạt hơn khu vực thành thị. Ngoài ra, các cộng đồng ở khu vực nông thôn, vùng ven và gần các khu công nghiệp thì nhà cửa thường được làm từ các vật liệu tạm bợ và người dân còn chưa tiếp cận được đầy đủ các dịch vụ cần thiết.

 


 

 

Mặc dù TP.HCM và các khu vực lân lận đã phát triển đáng kể về kinh tế và cơ sở hạ tầng trong thời gian qua nhưng một lượng lớn người dân là những người sinh sống lâu năm hoặc những người mới đến từ các tỉnh khác vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cuộc sống không ổn định. Với chi phí sinh hoạt rất cao, mặc dù có nhiều cơ hội việc làm nhưng người lao động phổ thông và công nhân không có tay nghề vẫn gặp khó khăn để tạo ra thu nhập đủ trang trải cho bản thân và hỗ trợ cho gia đình. Tuy tỷ lệ nghèo tại TP.HCM và các tỉnh lân cận thấp hơn so với các tỉnh thành khác, nhưng với dân số tập trung đông thì số lượng người nghèo ở khu vực này vẫn còn đáng kể.


Trong bối cảnh với lượng người nghèo cao như vậy, CEP đã thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo thông qua việc cung cấp các dịch vụ tín dụng, tiết kiệm và các hoạt động phát triển cộng đồng. Địa bàn tập trung hoạt động của CEP là TP.HCM và các tỉnh lân lận, bao gồm cả thành thị và nông thôn. Nhiều người nghèo tại TP.HCM cần thực hiện các hoạt động tạo thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, cùng với sự gia tăng lao động phổ thông và công nhân không có tay nghề nhập cư vào khu vực đô thị, làm gia tăng thêm nhu cầu về những dịch vụ mà CEP đang cung cấp.






QUỸ TRỢ VỐN CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NGHÈO TỰ TẠO VIỆC LÀM (CEP)
14C Cách Mạng Tháng Tám, Quận 1
Tp. Hồ Chí Minh – Việt Nam
ĐT: 84 - 8 – 38 220 959 / 38 239 100  -  Fax: 84 - 8 – 38 245 620
Email: cephcm@cep.org.vn

mua sach online